Khi đặt dụng cụ thuỷ tinh, khách hàng thường hỏi chúng tôi: "Class A với class B khác nhau gì mà giá chênh vậy?". Bài này trả lời câu hỏi đó, kèm vài điều mà người mới vào phòng thí nghiệm hay làm sai.
Cốc có mỏ không phải để đo
Cốc có mỏ và bình nón cũng có vạch chia, nhưng vạch đó chỉ để ước chừng, sai số có thể tới 5%. Cốc dùng để hoà tan, đun và chứa tạm. Còn khi cần thể tích chính xác thì phải dùng bình định mức, pipet, buret hoặc ống đong có ghi cấp chính xác.
Đọc ký hiệu in trên dụng cụ
Chữ A hoặc B là cấp chính xác. Sai số của class A chỉ bằng khoảng một nửa class B.
AS là class A loại xả nhanh. Pipet AS chảy hết nhanh hơn, nhưng sau khi chảy hết phải chờ thêm khoảng 15 giây rồi mới nhấc ra.
In (hoặc TC) nghĩa là dụng cụ được chuẩn theo thể tích chứa bên trong, thường thấy ở bình định mức. Ex (hoặc TD) là chuẩn theo thể tích xả ra, thường thấy ở pipet và buret.
20 °C là nhiệt độ lúc dụng cụ được hiệu chuẩn. Phòng thí nghiệm ở Việt Nam thường nóng hơn, nhưng với công việc thông thường thì chênh lệch này không đáng kể.
Một số dụng cụ còn có chứng nhận theo lô hoặc theo từng chiếc. Phòng thí nghiệm làm theo ISO/IEC 17025 nên chọn loại này để có hồ sơ khi đánh giá.
Sai số cụ thể
| Dụng cụ | Dung tích | Class A | Class B |
|---|---|---|---|
| Bình định mức | 100 mL | ±0,10 mL | ±0,20 mL |
| Bình định mức | 1000 mL | ±0,40 mL | ±0,80 mL |
| Pipet bầu | 10 mL | ±0,02 mL | ±0,04 mL |
| Pipet chia vạch | 10 mL | ±0,05 mL | ±0,10 mL |
| Buret | 50 mL | ±0,05 mL | ±0,10 mL |
| Ống đong | 100 mL | ±0,5 mL | ±1,0 mL |
Số liệu lấy theo ISO 1042, ISO 648, ISO 835 và ISO 385. Sai số chính xác của từng chiếc được in trên thân hoặc ghi trên giấy chứng nhận.
Nên mua loại nào
Nếu pha dung dịch chuẩn hay dựng đường chuẩn, dùng bình định mức và pipet bầu class A. Phần chênh giá này đáng bỏ ra.
Nếu phải lấy nhiều mức thể tích khác nhau, pipet chia vạch class A hoặc AS sẽ tiện hơn. Tuy vậy, khi chỉ cần đúng một thể tích cố định thì pipet bầu vẫn chính xác hơn.
Chuẩn độ thì dùng buret class A, đọc tới 0,01 mL.
Pha môi trường vi sinh, dung dịch rửa hay thuốc thử không cần chính xác cao thì ống đong class B là đủ. Không cần mua class A cho những việc này.
Vài thói quen nên tập
Đọc vạch ngang tầm mắt, theo đáy mặt khum. Riêng dung dịch đậm màu như KMnO₄ thì khó nhìn đáy, nên đọc theo mép trên.
Trước khi lấy dung dịch, tráng pipet và buret 2 đến 3 lần bằng chính dung dịch đó. Nếu bỏ bước này, nước còn bám trong ống sẽ pha loãng dung dịch.
Với pipet loại Ex, để dung dịch tự chảy, chạm đầu pipet vào thành bình hứng. Giọt còn lại ở đầu pipet thì để nguyên, không thổi ra. Chỉ pipet có vòng mờ gần miệng (loại "thổi") mới phải thổi giọt cuối.
Với bình định mức, chờ dung dịch về nhiệt độ phòng rồi mới thêm nước tới vạch. Đậy nắp và lật ngược lắc ít nhất 10 lần. Không đun trong bình định mức và cũng không dùng nó để đựng dung dịch lâu ngày, đặc biệt là dung dịch kiềm vì kiềm ăn mòn thuỷ tinh.
Rửa và cất
Rửa ngay sau khi dùng bằng nước và chất tẩy rửa trung tính dành cho phòng thí nghiệm, sau đó tráng nước cất. Dụng cụ sạch là khi nước chảy thành một lớp màng đều trên thành, không đọng giọt. Không dùng chổi cứng hay bột mài để cọ bên trong, vì vết xước vừa làm sai thể tích vừa dễ bám bẩn. Nhiều phòng thí nghiệm để dụng cụ đo thể tích khô tự nhiên thay vì sấy cho an toàn. Định kỳ nên kiểm tra lại bằng cách cân nước theo ISO 4787.
Kỹ thuật viên TC-Chem hỗ trợ qua hotline 0942.592.312 hoặc Zalo.